SÁN LÁ GAN TRÊN DÊ

Thời tiết nắng nóng xen kẽ mưa nhiều, môi trường ẩm thấp là điều kiện lý tưởng cho nhiều loại ký sinh trùng phát triển, trong đó có sán lá gan trên dê.

Đây là bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp đến gan và đường mật của dê. Sán có thể tồn tại lâu trong cơ thể, khiến dê gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy kéo dài, thậm chí suy kiệt và chết nếu nhiễm nặng.

Hiểu được sự nghiêm trọng của bệnh, Công ty CP Thiên Quân sẽ cùng bà con tìm hiểu về dấu hiệu, xác định nguyên nhân và chủ động kiểm soát bệnh sán lá gan trên dê thông qua bài viết dưới đây!

1. Nguyên nhân gây ra bệnh

Bệnh sán lá gan trên dê do sán lá Fasciola gigantica và Fasciola hepatica ký sinh ở gan và mật gây ra.

– Fasciola gigantica có hình bầu dục, dẹt, như một chiếc lá, màu nâu xám dài 25 – 75 mm, rộng 5 – 12 mm.

– Fasciola hepatica hình dạng và màu sắc giống Fasciola gigantica  nhưng ngắn hơn, dài thân 20 – 30 mm, chiều rộng thân 8 – 13 mm.

– Vật chủ trung gian của sán lá gan là ốc nước ngọt gồm ốc Lymnaea viridis và Lymnaea swinhoei.

 

Hình: Sán lá Fasciola spp. chụp lại từ gan gia súc

(Nguồn: https://generasibiologi.com/)

2. Đường lây truyền

– Sán lá gan thường xuất hiện ở các vùng hoặc khu vực chuồng nuôi ẩm thấp, vị trí gần sông, hồ, ao, đầm lầy hoặc các mạch nước rỉ. Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trứng sán nở thành ấu trùng và ký sinh ở các vật chủ trung gian truyền bệnh (ốc).

– Gia súc càng lớn tuổi, tỷ lệ mắc bệnh càng cao. Một vài nghiên cứu cho thấy, gia súc từ 1-2 năm tuổi cho tỷ lệ nhiễm 30% và gia súc trên 2 năm thì tỷ lệ gia tăng có thể lên đến 47%.

– Sán lá trưởng thành sống rất lâu trong gan của gia súc, từ 3-11 năm.

(A): Ấu trùng sán lá gan; (B): Trứng sán lá gan;

(C): Gan gia súc nhiễm sán lá gan; (D): Sán lá gan F. hepatica trưởng thành

(Nguồn: https://www.mdpi.com/2076-0817/10/6/749)

3. Vòng đời sán lá gan

– Sán lá trưởng thành sống trong ống mật và túi mật của gan, đẻ trứng tại đây.

– Trứng theo ống dẫn mật, thải ra bên ngoài theo phân.

– Gặp các điều kiện thuận lợi (ẩm thấp), trứng sẽ trở thành mao ấu, di chuyển được trong nước ao, hồ.

– Mao ấu tìm và ký sinh trong ký chủ trung gian là các loài ốc nhỏ Lymnaea.

– Trong cơ thể của ốc, mao ấu phát triển thành bào ấu, lôi ấu rồi thành vĩ ấu.

– Vĩ ấu chui ra ngoài tự nhiên, rụng đuôi, trở thành kén (ấu trùng cảm nhiễm).

– Kén trôi nổi trong nước hoặc bám vào các loài cây thủy sinh, gia súc uống phải nước hay ăn nhầm cỏ chứa kén sẽ nhiễm sán lá gan.

– Sau khi xâm nhập vào cơ thể gia súc, kén giải phóng ấu trùng sán lá, tiếp tục di chuyển đến ống dẫn mật, ở lại đó và phát triển đến giai đoạn trưởng thành.

Hình: Vòng đời của sán lá gan Fasciola spp.

4. Cơ chế gây bệnh

– Sán lá non di chuyển gây tắc ống dẫn mật, tổn thương niêm mạc ruột, dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiêu hóa.

– Sán lá trưởng thành tiết ra độc tố dẫn đến viêm ruột cấp-mãn tính, viêm túi mật, viêm gan nhiễm khuẩn,… Ngoài ra, chúng còn hấp thụ chất dinh dưỡng từ máu làm gia súc gầy còm, thiếu máu. Số lượng ký sinh nhiều có thể làm cho gia súc gầy yếu và dẫn đến tử vong do kiệt sức.


5.
Triệu chứng điển hình

Bệnh sán lá gan trên dê được chia làm 2 thể phổ biến:

Thể cấp tính:

– Thường xảy ra trên thú non, biểu hiện điển hình là kém ăn, gầy ốm, suy nhược, da khô, lông xù và rất dễ gãy rụng.

– Thiếu máu rất nặng với các biểu hiện như niêm mạc nhợt nhạt, tái xanh, tiêu chảy nặng, phân lỏng xám có mùi tanh, gia súc kiệt sức và chết sau 4-5 ngày phát bệnh.

Thể mãn tính

– Thường xảy ra trên thú trưởng thành, đây là thể phổ biến hơn, gia súc có các biểu hiện tương tự thể cấp tính nhưng nhẹ hơn.

– Niêm mạc nhợt nhạt hoặc có màu vàng, tiêu chảy kéo dài, phù thũng ở khắp nơi trên cơ thể gia súc như 4 chân, ngực, vùng hầu, gan sưng khá to.

 

6. Chẩn đoán

– Khi gia súc có các dấu hiệu trên, bà con cần tiến hành xét nghiệm mẫu phân, kiểm tra sự hiện diện của trứng sán lá.

– Trong trường hợp bệnh ở thể cấp tính, sán non di hành, trong phân có thể chưa có trứng (gây tình trạng âm tính giả), bà con có thể sử dụng các phương pháp hỗ trợ như ELISA huyết thanh hoặc phát hiện kháng nguyên trong phân nhằm xác nhận chính xác tình trạng bệnh.

 

7. Điều trị

– Hoạt chất tẩy sán như closantel cùng với các chất tẩy ký sinh trùng như albendazole, ivermectin, fenbendazole,… có công dụng tốt trong việc tẩy sán lá gan hiệu quả và an toàn trên gia súc, bà con có thể tham khảo phác đồ sau:

– Điều trị sán lá gan: sử dụng sản phẩm CLOMEC với liều 1 ml/50 kg thể trọng, tiêm dưới da, 1 liều duy nhất

– Tăng cường sức đề kháng, đẩy mạnh phục hồi: sử dụng sản phẩm BCOMPLEX hoặc BUTASAL với liều dùng chung từ 1 ml/10-15 kg thể trọng/ngày, tiêm bắp thịt, dùng liên tục 3-5 ngày.

 

8. Phòng bệnh

– Để ngăn ngừa hiệu quả sán lá gan trên dê, bà con cần áp dụng biện pháp phòng ngừa kết hợp vừa tẩy vừa cắt đứt vòng đời của sán lá gan, quy trình gồm 4 biện pháp chính sau:

– Đầu tiên, thường xuyên kiểm tra phân và định kỳ tẩy ký sinh trùng cho dê một năm 2 lần. Tẩy ký sinh trùng định kỳ cho dê bằng sản phẩm CLOMEC với tần suất 6 tháng/lần.

– Thứ hai, tiêu diệt mầm bệnh tồn tại trong môi trường tự nhiên như cách ủ phân để diệt trứng và ấu trùng giun sán, tránh hiện tượng phân tán mầm bệnh.

– Thứ ba, tiêu diệt vật chủ trung gian, tháo khô vùng ngập nước, dùng CuSO4 với nồng độ 4‰ phun trên đồng cỏ, cây thủy sinh hoặc kết hợp nuôi thả vịt nhằm diệt ốc, cắt đứt giai đoạn phát triển của sán lá thời kỳ ấu trùng.

– Cuối cùng, nâng cao chăm sóc đàn dê của bà con. Bà con có thể tham khảo sản phẩm HEPANOL (2 ml/1 lít nước uống/ngày) hoặc ADE AMINOVIT (1 ml/2 lít nước uống/ngày) nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng thiết yếu, tăng cường sức đề kháng, thể trọng của dê, giúp dê chống đỡ mầm bệnh tốt hơn.

Bệnh sán lá gan trên dê có nguy cơ tiềm ẩn, bào mòn sức khỏe và năng suất đàn dê của bà con. Do đó, việc chủ động phòng ngừa, thường xuyên quan sát môi trường xung quanh chuồng nuôi và tẩy giun sán định kỳ luôn là giải pháp tiết kiệm, hiệu quả nhất.

Bộ phận Kỹ thuật Công ty CP Thiên Quân

Để lại một bình luận

Hotline
icons8-exercise-96 chat-active-icon